Dấu hiệu nhận biết đợt cấp của bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính là gì?

Đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính là tình trạng thay đổi cấp tính của các biểu hiện gồm:
- Khó thở tăng
- Ho tăng
- Khạc đờm tăng
- Thay đổi màu sắc của đờm.
- Đau ngực tăng
Những thay đổi này đòi hỏi phải có sự thay đổi trong điều trị thường ngày.
Các nguyên nhân gây đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính là gì?
Nhiễm khuẩn hô hấp chiếm 80% các trường hợp đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính:
- Có thể hiễm virus gồm Rhinovirus, Influenza, Parainfluenza, Respiratory Syncytial Virus (Virus hợp bào RSV), Human Metapneumomia Virus, Picornaviruses, Coronavirus (Covid 19), Adenovirus,….
- Và/ hoặc nhiễm vi khuẩn gồm Haemophilus Influenzae, Moraxella Catarrhalis, Staphylococcus Aureus, Streptococcus Pneumoniae,…
- Và/ hoặc nhiễm nấm Aspergillus, cryptococcus,...
Các nguyên nhân khác gồm:
- Dùng thuốc an thần, thuốc chẹn b (thuốc nhỏ mắt...),…
- Thở oxy không đúng với lưu lượng cao,…
- Các biến chứng của bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính như tràn khí màng phổi, tắc động mạch phổi, mệt cơ hô hấp, suy tim phải, tâm phế mạn.
- Các bệnh lý đồng mắc như suy tim trái, rối loạn nhịp tim, rối loạn chuyển hóa,…
Cách chẩn đoán đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính?
Theo tiêu chuẩn Anthonisen, đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính được chẩn đoán khi xảy ra ở người bệnh đã được chẩn đoán bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính và đột nhiên xuất hiện hai hoặc nhiều triệu chứng sau:
Các mức độ nặng của đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính được phân loại như thế nào?

Phân loại mức độ nặng của đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính theo Burge S (2003) gồm:
Mức độ nhẹ: Đợt cấp cần dùng kháng sinh, không cần corticoid toàn thân. Không có dấu hiệu suy hô hấp trên lâm sàng và/ hoặc kết quả khí máu.
Mức độ trung bình: Đợt cấp cần điều trị corticoid đường tĩnh mạch, có hoặc không kháng sinh. Không có dấu hiệu suy hô hấp trên lâm sàng và/ hoặc kết quả khí máu.
Mức độ nặng: Đợt cấp có suy hô hấp với giảm oxy máu, nhưng không tăng CO2, không toan máu; PaO2 < 60 mmHg và PaCO2 < 45mmHg.
Mức độ rất nặng: Đợt cấp có suy hô hấp với tăng CO2 máu, còn bù, nhưng không toan máu, PaO2 < 60 mmHg, PaCO2 > 45 mmHg, và pH > 7,35.
Mức độ đe dọa tính mạng: Đợt cấp có suy hô hấp với tăng CO2 máu, mất bù, kèm tình trạng toan máu, PaO2 < 60 mmHg, PaCO2 > 45 mmHg, và pH < 7,35.
Phân loại mức độ nặng của đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính theo Anthonisen:
Đợt cấp nhẹ: Có 1 trong 3 triệu chứng nặng là khó thở, số lượng đờm, màu đục/vàng và các triệu chứng đi kèm khác như: ho, tiếng rít, sốt không lý do. Trong 5 ngày trước đó có xảy ra hiện tượng nhiễm khuẩn đường hô hấp. Nhịp thở, nhịp tim tăng > 20% so với ban đầu.
Đợt cấp trung bình: có 2 trong 3 triệu chứng nặng sau: khó thở, số lượng đờm, màu đục/vàng hơn. Lúc này, người bệnh nên sử dụng kháng sinh nếu màu sắc của đờm không tốt.
Đợt cấp nặng: có cả 3 triệu chứng nặng sau: khó thở, số lượng đờm, màu đục/vàng hơn. Bệnh nhân được khuyến nghị dùng kháng sinh.
Phân loại mức độ nặng của đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính theo GOLD 2022:
Đợt cấp nhẹ: Người bệnh chỉ cần dùng thuốc giãn phế quản tác dụng ngắn.
Đợt cấp trung bình: Người bệnh điều trị với thuốc giãn phế quản tác dụng ngắn + kháng sinh và/hoặc corticosteroid đường uống.
Đợt cấp nặng: Bệnh nhân đợt cấp nặng có thể có suy hô hấp cấp. Do đó, người bệnh cần phải nhập viện hoặc đến khám cấp cứu để được can thiệp kịp thời.
Điều trị đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính như thế nào?

Đối với đợt cấp mức độ nhẹ
Đối với đợt cấp mức độ trung bình
Đối với đợt cấp mức độ nặng
- Tiếp tục các biện pháp điều trị đã nêu ở trên. Theo dõi mạch huyết áp, nhịp thở, SpO2.
Nếu người bệnh có chống chỉ định thở máy không xâm nhập hoặc nếu sau 60 phút thông khí không xâm nhập, các thông số PaCO2 tiếp tục tăng và PaO2 tiếp tục giảm hoặc các triệu chứng lâm sàng tiếp tục xấu đi thì cần chuyển sang thông khí nhân tạo xâm nhập. Các chống chỉ định thở máy không xâm nhập gồm:
Đối với đợt cấp có suy hô hấp nguy kịch
Khi nào người bệnh mắc đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính ra viện?
Lâm sàng ổn định 12 – 24h: người bệnh giảm ho, khó thở, lượng đờm giảm, đờm trong, hết sốt. Người bệnh nếu trước đây cấp cứu thì có thể đi bộ, ăn và ngủ mà không bị khó thở làm thức thường xuyên. Khí máu động mạch ổn định 12 – 24h. Người bệnh dùng thuốc cường ß2 giao cảm tác dụng ngắn dạng hít không thường xuyên, hơn mỗi 4 giờ. Có thể dùng thuốc giãn phế quản tác dụng kéo dài (cường ß2 và/ hoặc kháng cholinergics) kèm hoặc không kèm ICS.
Cách phòng ngừa đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính là gì?